Luôn đi trước đón đầu những xu hướng của tương lai, Unreal Engine được các nhà làm game đánh giá cao về tinh thần phát triển không ngừng.
Nền tảng engine Unreal 2.0 của Epic Games bắt đầu được xây dựng vào thời điểm cuối những năm 90. Khi đó, những hệ máy console mới như PS2, Xbox và GameCube đã đầu manh nha những tham vọng đầu tiên về việc thôn tính thị trường game trong tương lai. Tuy nhiên, ở thời kì trước đó, việc phát triển những sản phẩm dành cho PC và Console vẫn còn là hai khái niệm hoàn toàn tách rời.

Các nhà phát triển gặp rất nhiều khó khăn trong việc lập trình và xây dựng những tựa game trên console. Nắm bắt nhu cầu này của thị trường, Epic Games đã định hướng rằng Unreal 2.0 sẽ phải tập trung vào khả năng phát triển game đa nền dựa trên những bộ công cụ có thể chia sẻ.
Vào thời điểm ra mắt, Unreal 2.0 đã gây được một tiếng vang lớn khi kí được hợp đồng với quân đội Hoa Kỳ để làm tựa game phục vụ tuyển quân America's Army. Không chỉ vậy, cũng trong năm đó, mọi người bắt đầu biết đến tên tuổi của bộ công cụ này nhiều hơn khi nghệ sĩ Mary Flanagan đã sử dụng nó để xây dựng nên một tác phẩm đầy cảm xúc mang tên Domestic. Sự tương phản của 2 dự án càng làm nổi trội sức mạnh của Unreal 2.0.

Kể từ đó, các nhà làm game đã thực sự chú ý tới sản phẩm chất lượng cao này của Epic Games. Sự linh hoạt của nó không chỉ đủ sức xây dựng một môi trường thực tế để sử dụng trong hoạt động huấn luyện của quân đội mà còn làm ra được những tác phẩm nghệ thuật tràn đầy tình cảm.
Trong những năm sau này, tên tuổi của Unreal 2.0 đã lên như diều gặp gió khi được sử dụng trong rất nhiều tựa game nổi tiếng như Tom Clancy’s Splinter Cell, Deus Ex: Invisible War, BioShock hay Mirror Edge... Thời kì này cũng là lúc mà khái niệm về một engine game bắt đầu được mọi người nhìn nhận lại một cách nghiêm túc.

Trong những năm 90, các engine thường chỉ được sử dụng để phát triển những tựa game ăn theo phong cách của Doom. Không chỉ thế, một bộ engine cũng không thể định hình được những trải nghiệm mà một nhà làm game có thể đem tới cho game thủ. Tuy nhiên, sự giới hạn này không thể áp dụng được với trường hợp của engine Unreal 2.0.
“Một bộ engine chẳng thể làm được gì nhiều ngoài việc giúp bạn xây dựng vẻ bề ngoài cho một trò chơi. Thế nhưng, engine Unreal lại làm được hơn thế rất nhiều. Bạn có thể làm ra một trò chơi với đồ họa tươi sáng như trong các bộ phim hoạt hình, những sản phẩm 2D mang tính hoài cổ hay thậm chí là cả một tựa game chiến tranh thực tế” - Trích lời Sjoerd de Jong - một modder chuyên làm việc với Unreal.

Không giống như rất nhiều bộ công cụ khác, engine Unreal là một engine được cải tiến thường xuyên theo thời gian. Trong vòng đời của phiên bản 2, engine này đã được cải tiến để tích hợp với công nghệ vật lý Karma và thậm chí là được viết lại rất nhiều lần vì nhà sản xuất muốn hoàn thiện nó từng ngày để theo kịp với những thay đổi của xu thế mới.
Trong khi xây dựng những tựa game của riêng mình, Epic Games cũng đồng thời xây dựng một cộng đồng cho những nhà phát triển sử dụng bộ công cụ Unreal. Trong hơn mười năm phát triển, cộng đồng này đã chia sẻ rất nhiều kiến thức quý giá, giúp ích cho những người mới tìm hiểu về engine này. Ngày nay, rất nhiều người có thói quen tìm đến Unreal Community Network để đọc những bài hướng dẫn được viết bởi các thành viên có kinh nghiệm ở đó.

Unreal Engine đã phát triển tới thế hệ thứ 3 và điều này cũng luôn gắn liền với những bước chuyển mình của các thế hệ console tiếp theo. Engine Unreal 3, được phát triển để thiết kế những tựa game ở độ phân giải HD thực sự là một điểm sáng trong sự nghiệp của Epic Games. Vào năm 2005, hãng này đã khiến cả thế giới phải sứng sốt khi nhìn thấy những hình ảnh đẹp như CG của Gears of War.
Không chỉ vậy, phó chủ tịch của Epic là ông Mark Rein còn khoe khoang rằng họ đã thuyết phục Microsoft nâng gấp đôi bộ nhớ Ram của Xbox 360 từ 256 lên 512 MB khi đưa ra sự khác biệt quá lớn về đồ họa của Gears of War ở hai độ phân giải này.
(Còn tiếp)