Công nghệ chụp cắt lớp mới tiết lộ điều kì diệu trong những hơi thở đầu đời của tất cả chúng ta

Thanh Long , Theo Pháp luật & Bạn đọc

Khi chào đời, bạn sẽ khóc trong vòng 1 phút. 6 phút sau đó, bạn bắt đầu thở và hơi thở sẽ dần dần đều như thủy triều lên xuống.

Điều gì được trông chờ nhất trong và cả ngoài phòng sinh của bệnh viện? Đó là tiếng khóc chào đời của đứa trẻ. Một đứa trẻ khóc có nghĩa là nó đã vượt qua bài kiểm tra sinh tồn đầu tiên trong cuộc sống: Nước cần phải được đẩy ra khỏi phổi, đứa trẻ cần tự thở được qua tiếng khóc chào đời ấy.

Nhưng nếu tất cả đó là những gì cơ bản mà bạn đã biết về tiếng khóc của trẻ sơ sinh, thì dưới đây là một số câu hỏi mà các nhà khoa học quan tâm hơn: Một đứa trẻ thông thường sẽ khóc lần đầu tiên trong bao lâu? 1 phút, 3 phút hay 5 phút?

Quá trình nước ối rút ra khỏi phổi của đứa trẻ như thế nào? Những hơi thở đầu tiên sẽ đi vào phổi trái hay phổi phải nhiều hơn? Đáp án từ những câu hỏi tưởng chừng đơn giản này lại có thể cho phép bác sĩ cải thiện hướng dẫn cấp cứu hoặc chăm sóc trẻ sơ sinh tốt hơn.

Công nghệ chụp cắt lớp mới tiết lộ điều kì diệu trong những hơi thở đầu đời của tất cả chúng ta - Ảnh 1.

Lần đầu tiên hơi thở chào đời của trẻ sơ sinh được nghiên cứu trong thời gian thực

Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm các nhà khoa học quốc tế đến từ Úc, Đức, Thụy Sĩ và Canada. Trong đó, họ đã sử dụng một kỹ thuật đặc biệt được gọi là EIT (Electrical impedance tomography hay Chụp cắt lớp trở kháng điện) để tái tạo lại những gì xảy ra bên trong lồng ngực của 17 đứa trẻ sơ sinh.

Những đứa trẻ này được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu bởi các bà mẹ đẻ theo phương pháp mổ (Caesarean section). Đẻ mổ có thể làm tăng nguy cơ đứa trẻ đẻ ra không khóc tự nhiên, bởi chúng không được "đánh thức dậy" bằng những cú đẩy và rặn qua đường âm đạo thông thường.

Nhất là với những đứa trẻ thiếu tháng, chúng gần như không khóc khiến các bác sĩ phải kích thích bằng cách xoa bóp chân, lưng hoặc thậm chí tét vào mông đứa trẻ. Một số trẻ gặp vấn đề về hô hấp khi chào đời thậm chí cần phải được đặt nội khí quản.

Trong nghiên cứu, rất may mắn là cả 17 đứa trẻ đều hô hấp tốt, các nhà khoa học đã đặt một chiếc đai EIT xung quanh lồng ngực của chúng và đo được tổng cộng 1.400 hơi thở đầu đời của trẻ. Đây là lần đầu tiên nghiên cứu dạng này được thực hiện trên người.

Trước đây, các thí nghiệm chỉ được thực hiện trên động vật không phải ánh chính xác những gì xảy ra với trẻ sơ sinh của chúng ta. Các phương pháp nghiên cứu trẻ sơ sinh thông qua xét nghiệm xâm lấn thì không được khuyến khích bởi chúng có nguy cơ làm hại đường hô hấp mỏng manh của trẻ.

EIT ngược lại không xâm lấn, nó chỉ là một đai cảm biến nhằm giúp ghi lại những thay đổi về thể tích phổi xảy ra trong những phút hô hấp đầu tiên bên ngoài tử cung của trẻ.

"Công nghệ mới này không chỉ cho phép chúng tôi nhìn sâu vào phổi mà còn là phương pháp duy nhất mà con người hiện có để chụp ảnh phổi liên tục, không cần sử dụng đến tia bức xạ hoặc làm gián đoạn việc chăm sóc cứu sống", David Tingay, một bác sĩ sơ sinh lâm sàng từ Viện Nghiên cứu Trẻ em Murdoch (MCRI) ở Úc cho biết.

"Nghiên cứu này của chúng tôi cho thấy hoạt động phổi của trẻ sơ sinh phức tạp hơn nhiều so với các phương pháp theo dõi truyền thống đã đề xuất trước đây".

Công nghệ chụp cắt lớp mới tiết lộ điều kì diệu trong những hơi thở đầu đời của tất cả chúng ta

Các nhà khoa học đã quan sát thấy những gì?

Đăng tải kết quả nghiên cứu trên tạp chí American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, các nhà khoa học cho biết ngay khi những đứa trẻ còn nằm trong tử cung người mẹ, chúng đã bắt đầu tập thể dục cho phổi của mình.

Phổi lúc đó vẫn bị ngập bởi dịch lỏng do niêm mạc tiết ra, nhưng chúng vẫn di chuyển lên xuống theo nhịp thở để cơ hoành và não bộ trẻ được thích nghi và sẵn sàng cho giờ khắc quan trọng. Tuy nhiên, quá trình luyện tập này giảm ngay trước khi sinh.

Nếu trẻ được sinh thường, sức ép lớn đi kèm với việc được đẩy qua ống âm đạo sẽ khiến một phần chất lỏng trong phổi đứa bé thoát ra ngoài, phần còn lại được chính đứa trẻ hấp thụ vào bên trong phổi nhờ hiệu ứng từ việc tăng nồng độ adrenaline.

Thật không may, một phần nhỏ chất lỏng sẽ còn lại trong phổi trẻ, đặc biệt nếu người mẹ chọn phương pháp sinh mổ. Khi đứa trẻ sinh mổ chào đời, luồng không khí đầu tiên nó hít được sẽ tiếp tục đẩy lượng dịch lỏng này vào trong.

Phổi trẻ sau đó tiết ra một chất giống với xà phòng được gọi là chất hoạt động bề mặt. Nó giúp các túi khí nhỏ bé trong phổi được gọi là phế nang dễ dàng loại bỏ lớp dịch còn lại nở rộng hơn để có được nhiều không khí hơn.

Đó là lý do mà trong khoảnh khắc đầu tiên khi một đứa trẻ chào đời và thở, các bác sĩ hoặc bà mẹ thường nghe thấy tiếng "ục ục" phát ra từ ngực trẻ. Lần đầu tiên, nghiên cứu sử dụng đai EIT đã xác nhận được hiệu ứng này trong thời gian thực.

Các nhà nghiên cứu cho biết khi trẻ sơ sinh mới thở, chúng không nhất thiết phải sử dụng công suất của cả hai lá phổi trái phải như nhau. Theo đó, trẻ thường thở bằng phổi phải nhiều hơn phổi trái.

Trong số tất cả các nhịp thở được ghi lại, tiếng khóc chỉ xảy ra trong phút đầu tiên sau khi sinh. Phổi của trẻ trong thời gian này sẽ căng phồng. Nhưng sau đó chỉ 6 phút, hơn một nửa nhịp thở của các bé đã dịu lại thành một dòng chảy đều đặn được gọi là "nhịp thở thủy triều".

Công nghệ chụp cắt lớp mới tiết lộ điều kì diệu trong những hơi thở đầu đời của tất cả chúng ta - Ảnh 3.

Đây là mô hình thở đặc trưng và điển hình ở những đứa trẻ sinh mổ khỏe mạnh. Các nhà khoa học cho biết nó sẽ cho phép các bác sĩ ra quyết định khi nào nên can thiệp hoặc theo dõi chất lượng thở của những đứa trẻ sơ sinh khác, đặc biệt là trẻ sinh thiếu tháng.

Thống kê cho thấy khoảng 1/10 trẻ sơ sinh và hầu như tất cả trẻ sinh trước 37 tuần đều cần phải được kích thích hoặc hỗ trợ mới có thể thở được. Các biện pháp từ đơn giản đến phức tạp bao gồm xoa lòng bàn chân và đặt nội khí quản.

Trong trường hợp khẩn cấp, đặt ống nội khí quản mặc dù có thể cứu được mạng sống của trẻ nhưng nó có thể làm hỏng đường thở và khiến trẻ sơ sinh có nguy cơ bị tổn thương mô, nhiễm trùng và mắc các bệnh đường hô hấp sau này.

Vì vậy, biết được khi nào cần thực hiện các biện pháp can thiệp này còn khi nào không có thể giúp các bác sĩ tránh đưa trẻ sơ sinh vào những rủi ro không đáng có.

Tham khảo Businessinsider