Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng

Khi Victor Hasselblad mơ về chiếc máy ảnh hoàn hảo phục vụ cho sở thích chụp các loài chim, có lẽ ông cũng không thể ngờ được những thành công mà nó đạt được cho đến thời điểm hiện tại.

Fritz Victor Hasselblad sinh ra tại thành phố cảng Gothenburg, Thụy Điển vào ngày 8 tháng Ba năm 1906. Gia đình Hasselblad là những thương nhân ăn nên làm ra, kể từ khi kinh doanh vải vóc và quần áo vào năm 1841, và sau đó là các trang thiết bị ngành ảnh thời kì đầu từ năm 1885. Vào năm 1888, công ty F.W. Hasselblad & Co là nhà phân phối độc quyền các sản phẩm của Eastman Kodak tại Thụy Điển. Khoảng 2 năm sau khi Victor được sinh ra, vào năm 1908, công ty gia đình này đã triển khai bộ phận mới tên gọi là Hasselblads Fotografiska AB, với các cửa hiệu bán vật tư ngành ảnh và cung cấp dịch vụ xử lí phim ảnh trên khắp đất nước Thụy Điển.

Vì vậy, không mấy ngạc nhiên khi cậu bé Victor sớm có mối quan tâm sâu sắc với nhiếp ảnh kể từ khi còn nhỏ, cùng với đó là niềm đam mê với tự nhiên, đặc biệt là các loài chim. Hai sở thích này rồi sẽ trở thành hai mảnh ghép làm thay đổi thiết kế máy ảnh chuyên nghiệp.

Victor thích ở ngoài tới mức kết quả học tập khá bết bát, dù cậu tỏ ra xuất sắc trong môn sinh học và thực vật học. Cuối cùng thì người cha - ông Karl Erik, một kĩ sư - đã đi tới kết luận rằng việc cho cậu thực tập trong công ty của gia đình sẽ có ích hơn là hoàn thành việc học tập.

Cậu thiếu niên khi đó được gia đình gửi tới Dresden, Đức để học hỏi về ngành máy ảnh. Cậu đã làm việc cho ICA-Werken - tiền thân của Zeiss Ikon - và được học nhiều điều về quá trình chế tạo máy ảnh, ống kính cũng như thông thạo tiếng Đức trong thời gian đó. Đến năm 20 tuổi, Victor chuyển tới Paris, nơi chàng trai trẻ làm việc cho cửa hàng Kodak-Pathe nằm tại Đại lộ Opera và đã học được cả tiếng Pháp (sau này ông cũng thông thạo cả tiếng Hà Lan và tiếng Anh).

Dù ở đâu trên quả địa cầu, Victor luôn tiếp tục theo đuổi hai đam mê song hành dành cho nhiếp ảnh và môn điểu cầm học (nghiên cứu các loài chim).

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 1.

Victor Hasselblad, khoảng 20-21 tuổi với máy ảnh Graflex

Vào năm 1926, Victor chuyển đến nước Mỹ và làm việc tại trụ sở Kodak tại Rochester. Khi ở đó, người sáng lập hãng George Eastman đã chú ý tới chàng trai trẻ, và đã mời Victor ăn tối vài lần.

Sau tất cả thì, Victor cũng trở về Thụy Điển để tham gia vào việc kinh doanh của gia đình, mà giờ đây đã phát triển thành một chuỗi các cửa hàng nhiếp ảnh trên khắp đất nước. Anh chàng mua một chiếc xe gắn máy hiệu Husqvarna để du lịch khắp đất nước, và xa hơn là tới cả Đan Mạch và Hà Lan trong những chuyến đi quan sát các loài chim.

Victor đã mang về một chiếc máy ảnh Graflex khổ 8x10,5cm từ Mỹ, nhưng sau anh dần nhận ra những hạn chế của nó khi sử dụng thực tiễn, đặc biệt là trong việc chụp các chủ thể nhỏ, di chuyển nhanh. Victor cũng bắt đầu sử dụng các máy ảnh khổ 35mm của Leica và Contax, những thiết bị mà anh dành nhiều sự ngưỡng mộ, nhưng cũng nhanh chóng nhận ra kích cỡ âm bản nhỏ sẽ là hạn chế khi cần phóng các bản in khổ lớn.

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 2.

Trụ sở ban đầu của FW Hasselblad & Co. tại trung tâm Gothenburg trở thành xưởng sản xuất máy ảnh Hasselblad vào năm 1951.

Vào năm 1934, ông Victor kết hôn với bà Mary Erna Ingeborg Nathorst - hay gọi là Erna - tại Nhà thờ Seglora bên trong Skansen, một bảo tàng mở tại Stockholm. Khi đó ông 27 tuổi, còn bà thì 19. Cuộc hôn nhân hạnh phúc của hai người kéo dài cho tới khi ông mất vào năm 1978, dù họ không có con. Hai vợ chồng nuôi nhiều chó, trong đó có một chú được đặt tên là Leica. Bà Erna mất sau ông 5 năm, ở tuổi 68.

Năm 1935, ông Victor xuất bản tác phẩm Flyttfågelstråk - Chuyến bay của chim di cư, trong đó ông là tác giả cả phần chữ và phần hình ảnh. Tác phẩm này đã đạt được thành công tương đối, nhưng vì vậy mà ông đã vắng mặt trong việc kinh doanh của gia đình, đẩy mối quan hệ giữa cha con ông đã xa lại càng xa hơn. Để rồi cuối cùng, ông Karl Erik đã hết kiên nhẫn và từ bỏ con trai mình vào năm 1937. Hai người không bao giờ nói chuyện với nhau nữa kể từ thời điểm đó.

Chính từ đây, vừa để chứng tỏ quan điểm, vừa vì rất cần một nguồn thu nhập, ông Victor quyết định thành lập công ty của riêng mình - Victor Hasselblad AB, với cửa hàng đầu tiên Victor Foto nằm ở một trong những quảng trường chính khu trung tâm Gothenburg. Cửa hàng này phục vụ các dịch vụ ngành ảnh kết hợp với sửa chữa máy ảnh. Mỉa mai thay, Victor Foto nằm rất gần trụ sở chính của công ty gia đình ông sở hữu.

Cất cánh

Trong khi dành nhiều giờ liền quan sát các loài chim, Victor bắt đầu tưởng tượng về một chiếc máy ảnh lý tưởng dành cho mình. Nó cần có thiết kế gương lật. Nó phải cho phép điều chỉnh các thông số nhanh chóng. Nó phải cho phép thay thế ống kính. Nó nên nhỏ và nhẹ hơn những chiếc Graflex, nhưng cũng cần dùng kích cỡ âm bản lớn hơn 35mm. Điều cuối cùng này nhằm mục đích phóng những tấm ảnh lớn hơn mà vẫn giữ được những chi tiết rất nhỏ, ví dụ như lông chim.

Ban đầu, Victor không chắc chắn lắm về thiết kế SLR (single lens reflex - máy ảnh gương lật đơn). Ông viết ở thời điểm đó: “Đúng là với kiểu thiết kế này, một người có thể điều chỉnh các thông số kịp ngay tại khoảnh khắc chụp, nhưng khả năng đó cũng thường chỉ là ảo tưởng, bởi khi chụp một con vật lao về phía bạn, nếu bạn có thể thấy con vật rõ ràng trong gương, nó vẫn có thời gian để di chuyển một khoảng đáng kể trong những khoảnh khắc kể từ khi gương lật lên cho tới khi màn trập được nhả.”

Nhờ kĩ năng điêu luyện trong việc sửa chữa máy ảnh, Victor dần được biết đến về trình độ kỹ thuật. Thế nên, sau khi Thế chiến thứ 2 bắt đầu, Không lực Hoàng gia Thụy Điển đã tiếp cận ông vào đầu thập niên 40 để thiết kế một mẫu máy ảnh cầm tay dùng trên máy bay. Phía Thụy Điển khi đó đã lấy được một chiếc máy ảnh phục vụ bay của Đức còn nguyên vẹn từ một máy bay do thám Luftwaffe bị bắn hạ, và họ mang nó tới cho Victor, với hi vọng ông có thể sao chép nó.

Ông nhớ lại: “Tôi nhận được một yêu cầu: anh có thể làm ra một chiếc máy ảnh như thế này không? Và rồi họ cho tôi xem chiếc máy ảnh Đức bị thu giữ. Tôi kiểm tra nó cẩn thận, và nhận thấy rằng nó chẳng phải thứ gì đó quá đặc biệt. Thế nên tôi trả lời thật thà:’Không, tôi không thể tạo ra thứ như thế, nhưng tôi có thể làm được thứ tốt hơn.’.”

Phía không quân khi đó đã yêu cầu một bản mẫu thử nghiệm. Dù Victor Hasselblad có nhận ra lúc đó ông đang đối mặt với một thách thức khổng lồ, ông cũng không cho phép nó làm mình nản lòng, và nhanh chóng bắt tay vào việc thiết kế, tìm kiếm nguồn công cụ và bắt đầu chuẩn bị các cơ sở sản xuất (dưới một công ty khác với tên gọi là Ross AB).

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 3.

Chiếc máy ảnh đầu tiên thiết kế và chế tạo bởi Victor Hasselblad, mẫu Ross HK-7 là mẫu máy ảnh cầm tay sử dụng trên máy bay được Không lực Hoàng gia Thụy Điển sử dụng trong Thế chiến 2.

Nhà xưởng đầu tiên này đặt tại một góc thừa ra của ga-ra nơi Victor thường bảo dưỡng chiếc xe của ông. Gần đó là một bãi phế liệu, nơi ông bắt đầu tới tìm kiếm nguyên liệu thô vốn đang khan hiếm do cuộc chiến. Vào những buổi tối, với sự giúp đỡ của người thợ cơ khí, Gustaf Tranefors và em trai ông này - Åke, Victor bắt đầu lật ngược lại cách chiếc máy ảnh Đức được chế tạo và cải thiện về cả mặt thiết kế lẫn chất lượng hoàn thiện.

Kết quả là chiếc máy ảnh Hasselblad đầu tiên, với tên gọi là HK-7, dù cho nhãn hiệu trên máy là “Ross Aktiebolag”. Tuy nhiên, bản mẫu này được làm quá vội vàng và vì thế nó đã thất bại trong lần thử đầu tiên, nhưng sau đó Victor tiếp tục làm việc để nhanh chóng đưa ra phiên bản được chỉnh sửa lại. Lần này thì nó hoạt động hoàn hảo.

Phía Không lực Thụy Điển khi đó đã đặt hàng đủ nhiều để việc sản xuất chính thức bắt đầu. Chỉ trong vòng vài tháng, công ty non trẻ đã có một nhà xưởng hoàn chỉnh với 20 nhân công. Mẫu HK-7 là máy ảnh cầm tay, với thân vỏ làm từ nhôm, có ống kính thay đổi được và sử dụng khổ phim 80mm để chụp những tấm âm bản kích cỡ 7x9 cm.

Ross AB chịu trách nhiệm sản xuất, lắp ráp tất cả các bộ phận, bao gồm cả bộ phận màn trập lá, nhưng các ống kính cho máy thì đến từ các hãng như Zeiss, Schneider hay Meyer-Gorlitz.

Tổng cộng, có 240 chiếc HK-7 được sản xuất, và có những tính năng đặc trưng của những chiếc Hasselblad dân dụng sau này đã xuất hiện trên chiếc máy đầu tiên này, bao gồm việc sử dụng màn trập lá. Ngay từ khi bắt đầu, Hasselblad đã tập trung vào những yếu tố như cơ khí chính xác, độ bền và quan trọng nhất là độ tin cậy của thiết bị. Một chi tiết thú vị khác, đó là ông ÅkeTranefors tiếp tục làm việc cho hãng Hasselblad trong vòng 40 năm sau đó.

Chiếc máy ảnh dùng trên máy bay tiếp theo của Victor, mẫu SKa4, lại tiến một bước gần hơn tới chiếc máy ảnh dân dụng Hasselblad đầu tiên - chiếc máy lí tưởng của Victor - khi nó sử dụng khổ phim vuông (dù lớn hơn, ở khổ 12x12 cm), và có buồng phim có thể thay thế. Chúng sử dụng loại phim rộng 13 cm đục lỗ hai bên được sản xuất riêng cho máy.

Không phải là máy cầm tay như mẫu HK-7, chiếc SKa4 được gắn vào phần bụng máy bay, hướng thẳng xuống dưới để chụp ảnh do thám tự động theo tần suất định trước và theo kiểu hình xếp chồng, nhằm phục vụ mục đích trình chiếu lập thể cho quân đội. Theo ước tính, có khoảng 70 chiếc Ska4 được tạo ra.

Vào năm 1943, Ross bắt đầu sản xuất một chiếc máy ảnh cho Quân đội Thụy Điển, dưới tên gọi là MK80, một chiếc máy tạo ra âm bản khổ 7x12 cm, và có thể lắp thêm một kính tiềm vọng để chụp ảnh từ phía sau các bức tường hay công trình.

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 4.

Victor Hasselblad đã mở ra một cuộc thi thiết kế máy ảnh dân dụng đầu tiên trong công ty, nhưng cuối cùng nhà thiết kế nổi tiếng Sixten Sason mới là người được chọn để làm việc này.

Trở lại

Vào tháng Năm năm 1942, người cha của Victor qua đời và mở ra con đường cho ông trở về với công ty gia đình, và hơn thế là quyền sở hữu nó hợp pháp. Tại Ross khi đó, ông đang hướng các nhân viên của mình nghĩ về những thứ sau cuộc chiến, và thế là những phác thảo đầu tiên về việc tạo ra một chiếc máy ảnh phi quân sự dựa trên chiếc HK-7 dần hiện lên. Ở giai đoạn đó, nó được gọi đơn giản là “chiếc máy ảnh dân sự”.

Trước năm 1945, một số bản mẫu thô đã được chế tạo; nhờ chúng mà Victor nhận ra rằng ông cần một sản phẩm được chế tạo chỉn chu hơn cho thị trường dân sự. Ở thời điểm đó, công ty của ông cũng đang sản xuất một số thành phần cơ khí chính xác cho hãng máy bay Saab, và điều này cho phép Victor có thể liên hệ với nhà thiết kế Thụy Điển nổi tiếng Sixten Sason, người sau đó đã thiết kế mẫu máy ảnh cho ông. Sason cũng thiết kế chiếc xe hơi đầu tiên của Saab, mẫu Saab 92 và chiếc máy hút bụi Elektrolux (nay là Electrolux) Z 70. Dù là những sản phẩm chẳng liên quan gì, cả 3 sản phẩm này chia sẻ những chi tiết thiết kế khá tương đồng.

Mối quan hệ tốt giữa Hasselblad và Kodak cho phép Victor thuyết phục những người Mỹ thiết kế và chế tạo ra những mẫu ống kính rời cho chiếc máy ảnh mới của mình. Ban đầu, ông đã đặt hàng 4 mẫu, bao gồm: Ektar 80mm f/2.8 tiêu chuẩn, Ektar 55mm f/6.3 góc rộng, Ektar 135mm f/3.5 và Ektar 254mm f/5.6 - các ống kính tele.

Tất cả những gì ông cần bây giờ là việc nghĩ ra cái tên cho chiếc máy ảnh tâm huyết, và sau khi cân nhắc cả Ross và Victor, một trong những người bạn tại Kodak hỏi: “Sao không gọi nó là Hasselblad luôn?”

Những thất bại và thành công

Là một nhà kinh doanh lão luyện, Victor nhận ra tiềm năng to lớn của thị trường Mỹ. Thế nên, sự kiện ra mắt chiếc máy ảnh dân dụng đầu tiên của ông được tổ chức tại Athletic Club tại New York vào ngày 6 tháng Mười năm 1948. Tờ New York Herald Tribune khi đó đã có bài về sự kiện với tựa đề: “Nhà sản xuất châu Âu lại đánh bại các hãng máy ảnh Mỹ”.

Dù rằng tên mẫu của máy chưa được chỉ định cho tới sau này, mẫu Hasselblad 1600F đáng chú ý bởi thiết kế môđun hóa hoàn toàn, cho phép thay đổi không chỉ ống kính, mà cả khung ngắm (viewfinder) và buồng phim (film magazine). Dạng thiết kế SLR hình hộp ngang cho phép thoải mái cầm nắm, thao tác thuận tiện, nhanh chóng (ví dụ như lên phim) và cũng khá gọn gàng ở một chừng mực nào đó, nhờ sử dụng khổ âm bản 6x6 cm. Chiếc máy xứng đáng với danh hiệu “Chiếc máy ảnh Thụy Điển trong mơ”.

Tuy nhiên, trong khi thiết kế của chiếc 1600F tràn đầy cảm hứng, thì chiếc máy “như một cơn ác mộng” về mặt kỹ thuật. Thứ gây ra nhiều vấn đề nhất là loại màn trập mặt phẳng tiêu cự (focal plane shutter) dạng cơ khí, mà trên lý thuyết có thể lên tới tốc độ 1/1600s, nhưng thực tế là chậm hơn hoặc … không hoạt động. Sự thiếu ổn định này tới từ việc làm phần rèm màn trập nhẹ nhất có thể và yêu cầu cơ phận phải đạt khả năng tăng tốc cần thiết.

Khi những đợt hàng bắt đầu được gửi đi vào đầu năm 1949, hầu hết những chiếc máy ảnh đầu tiên đã gặp sự cố, tới mức Hasselblad đã phải gửi một kỹ sư tới Hoa Kì chỉ để xử lí vấn đề này. Nhưng dù khởi đầu trắc trở, sự chú ý dành cho chiếc máy tiếp tục gia tăng. Một trong những người đầu tiên sử dụng loại máy này là nhiếp ảnh gia huyền thoại Ansel Adams, người mô tả nó là một “cuộc cách mạng theo nhiều cách khác nhau”. Adams sau đó có mối quan hệ dài lâu với cá nhân Victor Hasselblad và những chiếc máy ảnh ông làm ra, và thường là người tham gia vào quá trình thử nghiệm các sản phẩm mới.

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 5.

Mẫu máy ảnh dân dụng đầu tiên của Hasselblad - 1600F ban đầu chỉ được gọi là 'the Hasselblad'

Một phiên bản nâng cấp - 1600F “Series 2” đã được giới thiệu vào năm 1950. Nó được cải thiện về độ tin cậy nói chung, nhưng màn trập vẫn có vấn đề. Vào năm 1953, chiếc 1000F được giới thiệu với tốc độ màn trập tối đa dễ đạt được hơn là 1/1000s mới giảm thiểu được tình trạng lỗi.

Ở thời điểm đó, Hasselblad cũng đã chuyển sang sử dụng ống kính Zeiss, trong số đó có ống kính huyền thoại góc siêu rộng 38mm f/4.5 Biogon, gắn vào chiếc máy ảnh không có gương lật SWA (Super Wide Angle). Hãng đã mang những mẫu máy ảnh mới này tới triển lãm Photokina năm 1954 tại Cologne và thu hút được rất nhiều sự quan tâm. Kể từ đây, Hasselblad bắt đầu nổi danh là nhà sản xuất máy ảnh khổ trung chất lượng cao.

Màn trập mới

Trong khi mẫu 1000F đạt được thành công đáng kể, Victor vẫn quyết định ngưng sử dụng loại màn trập trên mặt phẳng tiêu cự. Thay vào đó họ dùng màn trập lá (leaf shutter) mà nhờ đó, dù chúng có tốc độ tối đa chậm hơn, chỉ ở mức 1/500s, nhưng lại cho phép đồng bộ với đèn flash ở mọi tốc độ. Vào năm 1957, mẫu 500C được ra mắt (C viết tắt của Compur - hãng sản xuất màn trập lá), và đó là bắt đầu của một dòng sản phẩm máy ảnh phim tồn tại cho tới tận năm 2013. Sở dĩ nói vậy, là bởi chiếc máy cuối cùng của kiểu máy này - mẫu 503CW về cơ bản cũng tương tự với mẫu 500C ban đầu: một chiếc SLR khổ 6x6cm cơ khí hoàn toàn với các ống kính sử dụng màn trập lá, buồng ngắm và buồng phim thay thế được.

Tất nhiên là, trong quá trình phát triển, Hasselblad đã liên tục áp dụng những sự tinh chỉnh trên các mẫu máy của mình, dù cho mẫu 500C vẫn được bán dưới dạng nguyên bản cho tới tận năm 1970. Trong thời kì đó, Hasselblad cũng ra mắt một phiên bản có môtơ điện - chiếc 500EL vào năm 1965, trong khi mẫu SWA có phiên bản cập nhật SWC vào năm 1959 (sự thay đổi chủ chốt là việc kết hợp cơ chế lên phim và lên cò màn trập).

Việc hợp tác lâu dài giữa Hasselblad và NASA bắt đầu vào năm 1962, với chiếc 500C mà phi hành gia Walter M. Schirra sử dụng trên tàu không gian Sigma 7 thuộc Dự án Mercury, khi nó bay 6 vòng quanh Trái Đất vào ngày 3 tháng Mười năm đó. Schirra lúc ấy có một chiếc 500C, và ông đã mang nó cho các kĩ sư của NASA xem. Nhóm này sau đó đã mua một chiếc khác rồi thực hiện những điều chỉnh cần thiết để chiếc máy có thể hoạt động trong môi trường không trọng lực.

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 6.

Những chiếc máy ảnh Hasselblad dùng trên Mặt Trăng - HEDC và HEC bị bỏ lại phần lớn, chỉ có buồng phim được đem về Trái Đất

Các sứ mệnh thuộc Chương trình Gemini sau đó cũng sử dụng mẫu 500C, nhưng mẫu 500EL với môtơ điện lại thu hút sự quan tâm từ phía NASA nhiều hơn. Sau đó thì 2 phiên bản đặc biệt của chiếc máy này - với tên gọi Hasselblad Electric Data Camera (HEDC) và Hasselblad Electric Camera (HEC) - đã đi cùng phi hành đoàn Apollo 11 trong chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên của loài người. Ông Victor và vợ, bà Erna cũng có mặt tại Trung tâm Không gian Kennedy vào ngày 16 tháng Bảy năm 1969 để ngắm nhìn tên lửa đẩy Saturn V mang theo tàu Apollo 11, phi hành đoàn và 3 chiếc máy ảnh mang tên mình - một chiếc HEDC sơn bạc sẽ được sử dụng trên Mặt Trăng và hai chiếc HEC màu đen để chụp ảnh từ môđun điều khiển và thiết bị đổ bộ.

Khi Victor Hasselblad mơ về chiếc máy ảnh hoàn hảo cho sở thích chụp các loài chim của mình, có lẽ ông không bao giờ ngờ đến độ cao mà chúng có thể đạt tới, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Những chiếc máy ảnh được sử dụng cho nhiệm vụ Apollo sử dụng chất bôi trơn dạng ‘khô’ và các nguyên liệu mà không để tách rời phân tử. Chúng sử dụng ống kính Zeiss 60mm f/5.6 Biogon với ống ngắm kiểu thể thao (sports finder) đơn giản và buồng phim đặc biệt cỡ 70mm với khả năng chứa tới 200 khung hình. Để tiết kiệm trọng lượng, chỉ có phần buồng phim được mang về Trái Đất, thế nên 12 chiếc Hasselblad vô cùng giá trị vẫn đang nằm trên đó (con số thực tế có thể ít hơn khi phi hành đoàn Apollo 17 có thể đã mang về 2 chiếc).

Kể từ Chương trình Gemini, phía Hasselblad đã bắt đầu chịu trách nhiệm chế tạo, điều chỉnh những chiếc máy ảnh dùng trong không gian cho NASA, với một nhóm riêng các kĩ sư làm việc đó tại Gothenburg.

Người nổi tiếng

Vào năm 1970, Hasselblad đã giới thiệu với thế giới mẫu máy ảnh sẽ trở thành xương sống của rất nhiều hệ thống máy ảnh chuyên nghiệp trong 3 thập kỉ tiếp theo đó. Mẫu 500C/M chỉ có một số tinh chỉnh nhỏ, nhưng nâng cấp quan trọng nhất trong số đó là màn lấy nét (focusing screen) giờ đây cũng đã có thể được thay đổi bởi người sử dụng. Tính năng này cũng đồng thời được giới thiệu trên mẫu máy sử dụng môtơ 500EL/M.

Lúc này, Hasselblad đã là một công ty đạt được thành công lớn tới mức lấn sân sang cả những hạng mục sản phẩm khác, bao gồm cả một xưởng sản xuất giấy làm bao bì sản phẩm. Vào năm 1965, công ty gia đình ban đầu được bán lại cho Kodak, và sau khi xưởng giấy cũng được bán đi, Victor Hasselblad trở thành một trong những người giàu nhất tại Thụy Điển, và cũng là một người nổi tiếng ở nước này. Câu chuyện được rất nhiều người nhắc lại về một nhân viên hải quan khi đang kiểm tra hộ chiếu của ông, đã ngẩng lên nói: “Ông có cùng tên với loại máy ảnh nổi tiếng.”. Victor khi đó đáp lại: “Đúng, tôi CHÍNH LÀ máy ảnh đó đây.” (nguyên văn: "Yes, I am the camera.")

Khi đó, ông đã 60 tuổi và vẫn dành toàn bộ năng lượng của mình cho công ty máy ảnh. Tuy thế, ông vẫn tiếp tục theo đuổi đam mê chụp ảnh chim và đã mở một số triển lãm lớn trong những năm 70 của thế kỉ trước. Ở một trong số những sự kiện như thế tại Oslo, Na Uy vào năm 1975, tất cả bản in được bán hết trong ngày đầu tiên và Victor đã quyên góp toàn bộ số tiền bán ảnh cho Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF).

Vào năm 1976, ông bán công ty của mình, Victor Hasselblad AB cho một hãng đầu tư Thụy Điển. Mẫu máy ảnh cuối cùng mà ông trực tiếp tham gia phát triển - chiếc 2000FC đánh dấu sự trở lại của loại màn trập trên mặt phẳng tiêu cự, dù rằng nó cũng có thể sử dụng với các ống kính màn trập lá thuộc C series. Chiếc máy được giới thiệu chính thức vào năm 1977 cùng với 5 ống kính thuộc dòng F - không có màn trập bên trong. Điểm nhượng bộ duy nhất của 2000FC với thiết kế máy ảnh hiện đại là việc sử dụng loại màn trập titan điều khiển điện có thể đạt tốc độ tối đa 1/2000s, một trong những mục tiêu của Victor kể từ khi ông bắt đầu chế tạo máy ảnh.

Chiếc 2000FC là một máy ảnh hoạt động hoàn toàn bằng tay (manual) với tùy chọn đo sáng TTL (qua ống kính) nếu mua thêm gù đo sáng Meter Prism Finder. Bộ phận lên phim chạy điện không được bán ra cho tới năm 1984 với sự ra đời của mẫu 2000FCW. Để so sánh thì, đối thủ Rolleiflex SLX ra đời năm 1976 có tùy chọn lên phim bằng môtơ điện và đo sáng TTL, cùng với đó là chế độ chụp tự động điều chỉnh tốc (ưu tiên khẩu độ).

Cách tiếp cận bảo thủ của hãng Hasselblad với việc áp dụng các công nghệ mới bắt nguồn từ sự ám ảnh của Victor với tính tin cậy của thiết bị. Ông có lẽ không bao giờ muốn lặp lại những gì đã xảy ra với mẫu 1600F, và phải đến hơn 2 thập kỉ sau khi ông qua đời, Hasselblad mới tạo ra một hệ máy ảnh hoàn toàn mới: mẫu máy ảnh tự động lấy nét, chụp khổ 6x4,5cm H1 ra đời năm 2002.

Hasselblad: Từ một cậu bé mê đắm các loài chim đến nhà chế tạo ra máy ảnh đầu tiên sử dụng trên Mặt Trăng - Ảnh 7.

Bức tượng Victor Hasselblad tại Gothenburg được dựng vào dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông, năm 2006.

Loài chim hiếm

Với nhiều thời gian hơn (sau khi bán công ty), vào đầu năm 1978, ông Victor và bà Erna đã du lịch tới Quần đảo Galápagos, một nơi ông đã muốn đến thăm từ rất lâu, không phải vì loài cự đà biển mà là vì loài chim hiếm - mòng biển dung nham. Chính trong chuyến đi này, ông phát hiện những triệu chứng đầu tiên của căn bệnh không được tiết lộ, và đã lấy đi mạng sống của ông vào ngày 5 tháng Tám năm 1978.

Ông ra đi khi 72 tuổi, với di nguyện rằng tài sản của mình sẽ được sử dụng để triển khai Quỹ Erna và Victor Hasselblad mà ngày nay là Quỹ Hasselblad tại Gothenburg, với nhiệm vụ phát triển nhiều mảng giáo dục về nhiếp ảnh và khoa học tự nhiên.

Khi cuộc cách mạng số bắt đầu với những loại lưng máy (back) gắn cảm biến số cao cấp được thiết kế để lắp trên máy SLR khổ trung, các nhà sản xuất máy ảnh đều gặp khó khăn. Những cái tên như Bronica, Contax hay Rollei đã đi vào dĩ vãng, trong khi cả Pentax và Fujifilm lúc đó cũng dừng sản xuất máy ảnh film khổ trung.

Fujifilm sau này đã trở lại thị trường khổ trung với mẫu GFX không gương lật, và Pentax cũng đã ra mắt một mẫu máy ảnh số khổ trung vào năm 2010. Những công ty còn sống sót khác bao gồm Mamiya (tuy thuộc sở hữu của Phase One) và Hasselblad, mà hiện giờ có cổ đông chính là nhà sản xuất drone Trung Quốc DJI.

Tuy vậy, Hasselblad vẫn giữ truyền thống sản xuất máy ảnh tại Gothenburg, và mẫu máy ảnh hiện đại H6D của ngày hôm nay vẫn có những dấu ấn của chiếc Hasselblad dân dụng đầu tiên - chiếc 1600F. Tương lai của nhiếp ảnh, không còn nghi ngờ gì nữa, là máy ảnh không gương lật, như hai mẫu X1D II và 907X. Nhưng, ý tưởng về sự nhỏ gọn, kết hợp với khả năng thao tác nhanh và cam kết về chất lượng ảnh cực cao chính là những gì mà Victor Hasselblad đã luôn nghĩ đến trong những lần ngắm nhìn các loài chim thời trai trẻ.

Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày

NỔI BẬT TRANG CHỦ