Gần 180 năm nay, hãng Zeiss danh tiếng vẫn làm một công việc: rút ngắn khoảng cách giữa mắt người và thứ họ muốn nhìn. Giờ đây khoảng cách ngắn nhất đó nằm gọn trong vivo X500 Pro Max.
180 năm Zeiss rút ngắn khoảng cách giữa mắt người và vật thể, từ kính hiển vi Jena tới camera trên vivo X500 Pro Max
Sân Mỹ Đình trong đêm diễn BIGBANG qua vivo X500 Pro Max
180 năm Zeiss rút ngắn khoảng cách giữa mắt người và vật thể, từ kính hiển vi Jena tới camera trên vivo X500 Pro Max

Ngày 17/11/1846, người thợ cơ khí Carl Zeiss mở một xưởng nhỏ trên phố Neugasse của thành phố Jena, miền trung nước Đức. Vốn liếng ban đầu của xưởng là 100 đồng thaler đi vay, còn chủ xưởng khi đó vừa tròn 30 tuổi. Chỉ một năm sau, xưởng chuyển hẳn sang làm kính hiển vi, loại dụng cụ kéo những vật nhỏ hơn sợi tóc lại gần tới mức mắt người nhìn rõ được.

PLATE IJENA
Carl Zeiss (1816-1888), người mở xưởng cơ khí chính xác ở Jena.
PLATE II1846
Phác họa xưởng đầu tiên của Carl Zeiss ở Jena, tư liệu do Zeiss công bố.

Gần 180 năm sau, thương hiệu mang tên người thợ ấy vẫn làm đúng việc của xưởng Jena: rút ngắn khoảng cách giữa mắt người và thứ họ muốn nhìn. Khoảng cách ấy có lúc tính bằng micromet trong một tiêu bản tế bào, có lúc tính bằng nanomet trên tấm bán dẫn của một con chip. Có lúc khoảng cách đó lại là quãng xa từ hàng ghế cuối tới sân khấu của một đêm nhạc.

Chặng gần nhất của hành trình này nằm trong vivo X500 Pro Max, mẫu điện thoại mà vivo định vị cho việc quay chụp sân khấu từ khán đài. Muốn hiểu vì sao tên Zeiss xuất hiện trên cụm ống kính của một chiếc điện thoại, người đọc cần quay lại thời điểm xưởng Jena thôi mài kính bằng kinh nghiệm.

FRAME 01 · 1866

Khi phép tính thay chỗ đôi tay

Trong những năm đầu, kính hiển vi của xưởng Zeiss được làm theo lối thủ công quen thuộc của nghề quang học thế kỷ 19. Thợ mài thấu kính, lắp thử và soi thử, rồi loại bỏ những chiếc không đạt để làm lại từ đầu. Năm 1866, Carl Zeiss mời Ernst Abbe, giảng viên vật lý và toán học của Đại học Jena, về làm nghiên cứu cho xưởng.

Abbe bắt tay vào việc mà các xưởng quang học thời đó chưa quen làm: tính toán thiết kế thấu kính trên giấy trước khi chạm tay vào phôi kính. Đầu thập niên 1870, ông đưa ra điều kiện sin mang tên mình, nền tảng toán học cho việc thiết kế vật kính hiển vi. Kính hiển vi làm theo thiết kế của Abbe bán chạy, và xưởng nhỏ ở phố Neugasse bắt đầu lớn dần.

Nhưng một phép tính đúng vẫn cần thủy tinh đủ tốt để biến thành thấu kính thật. Năm 1879, nhà hóa học Otto Schott gửi cho Abbe một mẫu thủy tinh chứa lithi, mở đầu quan hệ hợp tác giữa hai người. Năm 1884, Schott cùng Abbe và Carl Zeiss lập xưởng thủy tinh ở Jena, nơi theo Britannica đã phát triển khoảng 100 loại thủy tinh quang học mới.

PLATE IIISCHOTT
Otto Schott, nhà hóa học phát triển thủy tinh quang học ở Jena.
0
loại thủy tinh quang học mới ra đời ở xưởng Jena

Từ đây, chất lượng một chiếc kính Zeiss thôi phụ thuộc vào đôi tay của một người thợ giỏi. Chất lượng ấy nằm trong bản tính toán và trong khâu đo kiểm, hai thứ có thể truyền lại cho thế hệ kỹ sư sau mà không mất đi khi người thợ giỏi nhất rời xưởng.

FRAME 02 · 1889

Một công ty không thuộc về cổ đông

Carl Zeiss qua đời tháng 12/1888, để lại Abbe một mình điều hành xưởng. Năm 1889, Abbe lập Quỹ Carl Zeiss, và tới năm 1891 quỹ này trở thành chủ sở hữu duy nhất của xưởng. Theo Britannica, Abbe lo rằng những người chủ tương lai sẽ làm giàu cho bản thân bằng cách hy sinh công ty và người lao động.

Tranh in xưởng Carl Zeiss ở Jena năm 1896
Tranh in xưởng quang học Carl Zeiss ở Jena năm 1896, dịp tròn 50 năm thành lập.

Tư liệu của Zeiss ghi rằng lợi nhuận của quỹ được dành cho khoa học, các dự án xã hội và người lao động. Khi không phải báo cáo lợi nhuận theo quý cho cổ đông, một công ty có thể kiên nhẫn với những hướng nghiên cứu mất hàng chục năm mới ra sản phẩm. Mô hình này không có nghĩa là Zeiss đứng ngoài biến động, vì sau Thế chiến thứ hai công ty từng bị chia thành hai nửa ở Đông Đức và Tây Đức.

Sự kiên nhẫn ấy hiện rõ nhất ở một lĩnh vực ít người gắn với tên Zeiss: sản xuất chip. Carl Zeiss SMT bắt đầu nghiên cứu quang học cho máy quang khắc cực tím từ giữa thập niên 1990, nhưng phải tới tháng 12/2005 mới giao hệ quang học đầu tiên cho ASML. Báo cáo thường niên 2025 của ASML gọi Zeiss SMT là nhà cung cấp duy nhất cột quang học cho các hệ thống quang khắc của hãng.

0mm
độ lệch lớn nhất trên gương quang khắc nếu tấm gương được phóng to bằng nước Đức

Theo kỹ sư Peter Kürz của Zeiss, nếu một tấm gương dùng trong máy quang khắc cực tím được phóng to bằng nước Đức thì chỗ lệch lớn nhất so với hình dạng lý tưởng chỉ cao khoảng 0,1mm. Ở thang đo đó, khoảng cách mà Zeiss rút ngắn là quãng giữa bản thiết kế một con chip và tấm bán dẫn thật. Chip tiến trình 2nm Dimensity 9600 Pro bên trong vivo X500 Pro Max thuộc thế hệ chip được in bằng loại máy quang khắc này.

FRAME 03 · 1935

Lớp phủ mỏng chặn ánh đèn

Năm 1935, nhà vật lý Alexander Smakula làm việc tại Zeiss ở Jena đã phát minh và đăng ký sáng chế lớp phủ chống phản xạ dựa trên hiện tượng giao thoa ánh sáng. Theo số liệu của Zeiss, lớp phủ đầu tiên ấy nâng tỷ lệ ánh sáng truyền qua từ 60% lên 87%. Lớp phủ đơn thời đó được thay bằng lớp phủ nhiều lớp T* vào cuối thập niên 1970, trong đó chữ T chỉ lớp truyền dẫn ánh sáng.

60%0%

Ánh sáng sân khấu là bài thử khó cho bất kỳ lớp phủ nào. Đèn LED chiếu thẳng vào ống kính và đèn quét đổi màu liên tục, trong khi mỗi bề mặt kính không được phủ đều có thể hắt ngược ánh sáng thành vệt lóa hoặc bóng ma trên ảnh. Theo Zeiss, mỗi bề mặt kính tiếp xúc không khí nếu không có lớp phủ hiệu quả sẽ phản xạ khoảng 4% ánh sáng.

Hệ thống camera dòng X của vivo đạt chuẩn lớp phủ T* ngay từ những năm đầu hợp tác với Zeiss. Năm 2023, hai bên công bố phiên bản T* kết hợp công nghệ lắng đọng đa lớp nguyên tử (Multi-ALD) cho thế hệ dòng X kế tiếp. Theo công bố đó, độ phản xạ ở vùng trung tâm giảm từ 0,2% xuống 0,1% trên phổ ánh sáng nhìn thấy.

Cụm camera vivo X500 Pro Max

Trên vivo X500 Pro Max, camera chính dùng lớp phủ Zeiss T* cùng dòng với sáng chế ra đời ở Jena gần một thế kỷ trước. Giá trị của lớp phủ này nằm ở những vệt lóa không xuất hiện trên ảnh, thứ mà người chụp hiếm khi để ý tới cho đến lúc thiếu nó.

FRAME 04 · 2020

Ai đứng ra đo chiếc máy

Ngày 17/12/2020, vivo và Zeiss công bố quan hệ đối tác toàn cầu về hình ảnh trên thiết bị di động, bắt đầu từ dòng vivo X60. Người dùng có lý do để hoài nghi khi thấy tên một hãng quang học lâu đời in trên điện thoại, vì ngành này từng có không ít thỏa thuận gắn tên thiếu công việc kỹ thuật đứng sau.

Nhưng quan hệ giữa vivo và Zeiss được dựng quanh một phòng thí nghiệm chung mang tên vivo ZEISS Imaging Lab, nơi hai bên cùng nghiên cứu công nghệ cho dòng điện thoại cao cấp của vivo. Theo Android Authority, khi có nguyên mẫu, cả vivo lẫn Zeiss đều thử nghiệm và đo kiểm trong phòng lab ở Trung Quốc và ở Đức. Câu hỏi đáng đặt ra vì thế không chỉ là logo Zeiss nằm ở đâu trên máy, mà là ai đứng ra đo chiếc máy trước khi logo được phép xuất hiện.

Logo nằm trên vỏ máy, còn chuẩn đo nằm trong phòng thí nghiệm ở Trung Quốc và ở Đức.

Mỗi bên mang vào quan hệ này thứ mà bên kia không tự có. Theo Android Authority, vivo coi trọng bề dày lịch sử và tri thức hình ảnh của Zeiss, còn Zeiss đánh giá cao năng lực phát triển thuật toán chụp ảnh điện toán của vivo. Một hãng quang học giỏi đến đâu cũng khó tự viết phần mềm xử lý ảnh cho hàng triệu chiếc điện thoại, trong khi một hãng điện thoại cần nhiều thập kỷ mới tích lũy được chuẩn đo quang học riêng.

Kết quả của sự bù trừ ấy hiện dần qua từng thế hệ máy. Năm 2023, hai bên cùng công bố thiết kế ống kính tiềm vọng theo chuẩn Vario-Apo-Sonnar mới dành cho dòng X. Ngày 22/8/2025, vivo và Zeiss gia hạn thỏa thuận và mở rộng hợp tác sang các ứng dụng hình ảnh nằm ngoài chiếc điện thoại.

VIVO ZEISS 01AX500 PRO MAX 01A
VIVO ZEISS 02AX500 PRO MAX 02A
VIVO ZEISS 03AX500 PRO MAX 03A
VIVO ZEISS 04AX500 PRO MAX 04A
VIVO ZEISS 05AX500 PRO MAX 05A
VIVO ZEISS 06AX500 PRO MAX 06A
VIVO ZEISS 07AX500 PRO MAX 07A
VIVO ZEISS 08AX500 PRO MAX 08A
vivo X500 Pro Max cùng tay cầm chụp ảnh và các ống kính tăng cường tiêu cự vivo ZEISS.
FRAME 05 · 2026

400mm từ hàng ghế xa

Các đêm nhạc quy mô sân vận động đã trở thành lịch giải trí quen thuộc của khán giả Việt Nam. Chỉ trong nửa cuối tháng 10/2026, TP.HCM đón hai đêm Anh Trai Vượt Ngàn Chông Gai, còn sân Mỹ Đình ở Hà Nội đón hai đêm diễn của BIGBANG trong tour kỷ niệm 20 năm của nhóm. Ở những khán đài rộng như vậy, nhiều khán giả ngồi xa sân khấu, và chiếc điện thoại là thiết bị ghi hình họ luôn mang theo.

24MM85MM400MM800MM
24mm

Ảnh chụp bằng vivo X500 Pro Max tại đêm diễn BIGBANG ngày 25/10/2026 ở sân Mỹ Đình.

vivo định vị X500 Pro Max cho đúng tình huống ấy, khi người xem muốn có ảnh rõ mặt nghệ sĩ mà không phải chen lên hàng đầu. Camera tele Zeiss APO của máy dùng cảm biến 200MP với tiêu cự tương đương 85mm. Hệ chống rung đạt chuẩn CIPA 7.0 giữ khung hình ổn định khi người chụp giơ máy ở khoảng cách xa. Khi gắn thêm Ống Kính Tăng Cường Tiêu Cự vivo ZEISS Gen 2 Ultra, máy đạt tiêu cự tương đương 400mm, đủ để lấy cận cảnh nghệ sĩ mà người xem không phải rời chỗ ngồi.

Hai ống kính tăng cường tiêu cự vivo ZEISS

Ống kính 400mm vẫn là phụ kiện mua rời, và khi gắn vào thì chiếc điện thoại trông giống một máy ảnh nhỏ gọn hơn là một món đồ bỏ túi. Tính tới ngày 26/10, giá bán tại Việt Nam của máy và phụ kiện vẫn chưa được công bố.

FRAME 06 · 1930S

Những ống kính cũ trong một nút chọn

Trong ứng dụng camera của các dòng máy cao cấp từ vivo, những chế độ chân dung mang tên Biotar, Sonnar, Planar và Distagon. Đây đều là tên những dòng ống kính Zeiss có thật, mỗi dòng từng để lại một kiểu thể hiện hậu cảnh riêng trong lịch sử nhiếp ảnh. Biotar ra đời giữa thập niên 1930 và được giới nhiếp ảnh nhớ tới bởi kiểu nhòe hậu cảnh xoáy tròn quanh chủ thể.

Các chế độ này là thuật toán mô phỏng cách những ống kính cũ thể hiện hậu cảnh, chứ máy không chứa phần kính vật lý của Biotar hay Sonnar. Nhưng vì được phát triển trong phòng thí nghiệm chung, những phong cách này có điểm tham chiếu là chính các ống kính Zeiss gốc, thay vì một bộ lọc do kỹ sư phần mềm tự hình dung.

Khoảng cách được rút ngắn lúc này là khoảng cách thời gian. Một kiểu nhòe hậu cảnh từng cần ống kính chuyên dụng của giữa thế kỷ trước, nay nằm gọn trong một thao tác chọn chế độ trên màn hình điện thoại.

Từ phố Neugasse tới khán đài

Xưởng nhỏ trên phố Neugasse từng làm kính hiển vi để người ta nhìn rõ những vật nhỏ hơn sợi tóc, còn ống kính Zeiss trên vivo X500 Pro Max được đưa lên khán đài để người xem nhìn rõ gương mặt nghệ sĩ từ hàng ghế xa. Với người mua điện thoại hôm nay, khác biệt giữa một logo và một quan hệ đồng chế tác không hiện trên bảng thông số, mà hiện ở những tấm ảnh chụp ngược đèn sân khấu. Giữa hai điểm đầu và cuối của hành trình là gần 180 năm, và phương pháp của Zeiss gần như không đổi từ thời Abbe tới phòng thí nghiệm chung với vivo: tính trước trên giấy rồi đo lại trong phòng lab, trước khi để tên mình xuất hiện trên một sản phẩm. Một logo có thể mua được trong một mùa ra mắt, còn một chuẩn đo phải tích lũy qua nhiều thế hệ người làm nghề.

Ảnh tư liệu lấy từ Wikimedia Commons. Chân dung Carl Zeiss, Otto Schott và tranh in xưởng Jena năm 1896 thuộc phạm vi công cộng. Chân dung Ernst Abbe: Rijksmuseum, CC0. Ống kính Planar T*: TTTNIS, CC0. Kính hiển vi năm 1914: Chad Anderson, SFO Museum, CC BY-SA 2.0. Ống kính Biotar: Denis Barthel, CC BY-SA 4.0. Phác họa xưởng đầu tiên: ZEISS Microscopy, CC BY-SA 2.0.