Christopher Nolan vừa có cuối tuần mở màn lớn nhất đời mình, với điểm phê bình gần như tuyệt đối và những con số phòng vé khiến cả Việt Nam chao đảo. Nhưng bóc riêng từng lớp nghề của The Odyssey ra soi, một câu hỏi khó chịu lộ dần: chúng ta đang tung hô điều gì?
ĐIỆN ẢNH·THE ODYSSEY·MỘT CUỐI TUẦN CHINH PHỤC CẢ THẾ GIỚI
Phê bình
The Odyssey là đỉnh cao
danh tiếng của Nolan,
chưa hẳn đỉnh cao điện ảnh
Christopher Nolan vừa có cuối tuần mở màn lớn nhất đời mình, với điểm phê bình gần như tuyệt đối và những con số phòng vé khiến cả Việt Nam chao đảo. Nhưng bóc riêng từng lớp nghề của The Odyssey ra soi, một câu hỏi khó chịu lộ dần: chúng ta đang tung hô điều gì?
Hình minh họa bằng AI
Suốt một tuần dài, sức nóng của The Odyssey vẫn chưa rời rạp: giờ nào cũng kín hàng đẹp, và khán giả không thể có ghế giữa trong rạp IMAX nếu không đặt trước vài hôm. Họ mong muốn được trải nghiệm gần ba tiếng đồng hồ “tuyệt đối điện ảnh”, qua một bộ phim được quảng bá bằng một cột mốc kỹ thuật nghe rất kêu: bộ phim đầu tiên trong lịch sử được quay toàn bộ bằng IMAX 70mm. Có điều, không một rạp nào ở Việt Nam trình chiếu được định dạng ấy với đầy đủ độ phân giải gốc của nó. Thứ được lấy làm điểm bán hàng lớn nhất của bộ phim, phần lớn người xem tại Việt Nam không được chiêm ngưỡng.
Từ nghịch lý nhỏ ấy mở ra một nghịch lý lớn hơn, và nó chính là câu hỏi tôi muốn đặt ra: chúng ta đang xếp hàng vì một tác phẩm điện ảnh, hay vì một sự kiện văn hóa mang tính toàn cầu? Bởi có hai thứ rất dễ bị gộp làm một khi nói về The Odyssey. Một là đỉnh cao danh tiếng, đo bằng vé bán ra, bằng lượt bàn tán, bằng độ phủ sóng, bằng số lượng bài các bên truyền thông đã viết về nó. Hai là đỉnh cao nghề, đo bằng chất lượng từ trong kịch bản, bằng hình được trình chiếu trên màn ảnh rộng, bằng cách dàn dựng hậu kỳ. Soi bộ phim qua từng lớp một, khoảng cách giữa hai thứ đó hiện ra khá rõ.
02
The Odyssey tạo ra một
cơn địa chấn phòng vé,
điều đó là thật
Trước khi giở giọng phán xét bất cứ điều gì, tôi phải sòng phẳng nhìn nhận: xét trên mọi thước đo của sự nổi tiếng, đây là đỉnh cao chưa từng thấy trong sự nghiệp Christopher Nolan.
Trước khi tiếng lành đồn xa
Những con số này đo danh tiếng
Mở màn nội địa
triệu USD
The Dark Knight Rises
The Dark Knight
The Odyssey
Mở màn toàn cầu
triệu USD · kỷ lục mới của Nolan
The Odyssey
The Dark Knight Rises
IMAX toàn cầu, tuần mở màn
triệu USD · kỷ lục mọi thời đại
The Odyssey
The Force Awakens
Khi người ta đã bắt đầu nói về phim
Đây mới là chỗ bộ phim tự nói về mình
Doanh thu nội địa theo tuần
triệu USD · khoảng cách giữa hai cột là mức giữ nhịp
Cuối tuần 1
Cuối tuần 2
Giảm 30% — trụ rạp tốt thứ ba lịch sử với phim mở màn trên 100 triệu USD
Doanh thu Việt Nam
tỷ đồng · chốt ngày 27/7
The Odyssey
Oppenheimer
RT phê bình
RT khán giả
Metacritic
CinemaScoreA
Con số 123,5 triệu USD từ 3.919 rạp Bắc Mỹ là sự kiện mở màn nội địa lớn thứ ba sự nghiệp làm phim của Nolan, sau The Dark Knight Rises và The Dark Knight, nhưng lại là màn ra mắt live-action lớn nhất năm 2026 và mức mở màn cao nhất lịch sử hãng Universal cho một phim gán nhãn R. Tính trên quy mô toàn cầu, 263,7 triệu USD trong tuần đầu là kỷ lục mở màn thế giới của chính Nolan, vượt qua The Dark Knight Rises hồi năm 2012. Phim cán mốc 300 triệu USD toàn cầu chỉ sau 6 ngày, nhanh nhất sự nghiệp lẫy lừng của nhà làm phim người Anh-Mỹ. Và ở hạng mục IMAX, con số 51,8 triệu USD trên toàn cầu đã phá kỷ lục mở màn mọi thời đại của Star Wars: The Force Awakens.
Trên các trang phê bình, phim đạt 94% trên Rotten Tomatoes, ngang bằng The Dark Knight và Memento, hai mức cao nhất ông từng có, cùng với đó là 89 điểm Metacritic và được xếp loại “Universal Acclaim”. Mức 97% điểm do khán giả bình chọn lại là một kỷ lục khác, cao nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Phải nói thêm, những con số này sẽ biến thiên theo tuổi thọ bộ phim, nhưng xét trên những lời khen, chê hiện tại, có thể khẳng định luôn rằng The Odyssey sẽ lại là một thành công khác của Nolan trên mặt trận điểm số.
Có một điều cần nói rõ về những con số phía trên: nó là hệ quả của một năm bàn tán, của một chiến dịch marketing rầm rộ.
Toàn bộ 123,5 triệu USD của tuần mở màn được trả bởi những người mua vé dựa trên tên Nolan, dựa trên cột mốc IMAX 70mm, dựa trên một cơn bàn tán kéo dài suốt một năm trời. Đó là tiền trả cho danh tiếng, theo đúng nghĩa đen.
Con số đầu tiên phản ánh điều người ta nghĩ sau khi bước ra khỏi rạp là cuối tuần thứ hai: 87 triệu USD, chỉ giảm 30% so với tuần đầu khởi chiếu. Đây là mức trụ rạp rất tốt trong lịch sử phim chiếu rạp: để so sánh, Oppenheimer giảm 44% và Avengers: Endgame giảm 59%. Có một chi tiết còn nói nhiều hơn cả con số: khảo sát PostTrak cho thấy tỷ lệ khán giả nam đã đi từ 59% ngày đầu xuống 52% ở tuần hai, tức là bộ phim đang lan ra ngoài nhóm người hâm mộ cốt lõi.
Những con số nói rằng người xem xong đã đi kể lại cho người khác, rằng ở tuần thứ hai thứ đang bán vé bằng thực lực, không phải bằng cơn sốt khơi ra bởi ngôn ngữ marketing.
Và tôi cũng không đưa ra những con số trên nhằm mục đích tranh cãi. Tôi muốn nói rằng danh tiếng của bộ phim The Odyssey đã nổi tiếng từ rất lâu, trước rất nhiều thời điểm nó ra tới rạp. Bên cạnh đó, mức sụt giảm chỉ 30% chứng minh Nolan đã làm được đúng cái ông đặt ra: một thiên sử thi mà bất kỳ ai bước vào rạp cũng theo dõi được. Tuy nhiên, nó không chứng minh rằng The Odyssey là đỉnh cao tay nghề của Christopher Nolan. Hai chuyện ấy khác nhau, và cả bài này sẽ nói về khoảng cách giữa chúng, giữa đỉnh cao danh vọng và đỉnh cao điện ảnh.
Có những chi tiết khác nói lên bản chất của cơn sốt này. Bộ phim gây tranh cãi trước cả khi bấm máy bởi những quyết định chọn diễn viên của Nolan: Lupita Nyong’o vào vai nàng Helen, còn Elliot Page thì bị đồn sẽ đóng Achilles - một tin đồn thất thiệt được đính chính sau đó. Ngay trước khi phim ra rạp, Nolan đã phải công khai lên tiếng để giải thích vì sao ông cho các nhân vật của Homer trò chuyện bằng ngôn ngữ hiện đại. Bộ phim đã trở thành chủ đề tranh cãi trên không gian mạng và trong các cộng đồng từ khi chưa một ai được xem nó, và đó chính là định nghĩa chuẩn xác của danh tiếng: những lời bàn tán về phim đã đi trước trải nghiệm một thời gian rất dài.
Ở Việt Nam, cơn địa chấn cũng lặp lại, dù không trọn vẹn. Chỉ khoảng ba tiếng sau khi mở bán vé, phim đã thống trị bảng xếp hạng doanh thu ngày; trưa 17/7, riêng The Odyssey thu hơn 2,9 tỷ đồng trong khi toàn thị trường hôm đó chỉ hơn 5 tỷ — nghĩa là một mình bộ phim của Nolan đã lớn hơn 27 phim còn lại cộng lại. Nhưng chỉ ba ngày sau, ngôi đầu đã đổi chủ: Conan Movie 29, một phim hoạt hình Nhật thậm chí chưa chiếu chính thức toàn quốc, vượt lên dẫn đầu. Tính đến 27/7, The Odyssey đạt hơn 62,4 tỷ đồng, vượt xa Oppenheimer để thành phim Nolan ăn khách nhất lịch sử rạp Việt — nhưng nó không phải phim ăn khách nhất Việt Nam trong chính hai tuần của mình.
Khả năng sinh lời
triệu USD · chốt ngày 27/7
Doanh thu trên kinh phí
x
639 triệu USD toàn cầu trên kinh phí 250 triệu
Điểm hòa vốn phòng vé thường rơi vào khoảng 2,5 lần kinh phí sản xuất — tức chừng 625 triệu USD
Nội địa so với quốc tế
Nội địa 44,8%
Quốc tế 55,2%
Những con số biết nói đều cho thấy The Odyssey là một hiện tượng. Nhưng hiện tượng ấy trước hết mang tính xã hội, rồi mới mang màu sắc điện ảnh. Danh tiếng thì đo được ngay, còn tay nghề thì phải bóc từng lớp, và ta hãy bắt đầu từ lớp mỏng nhất mà tôi thấy: con chữ.

03
Bạn sẽ không mang được
câu thoại nào về nhà
Memento là nơi Nolan chứng minh mình là một nhà biên kịch thực thụ. Tác phẩm năm 2000 mang về cho ông đề cử Oscar đầu tiên trong đời ở hạng mục Kịch bản gốc, và cả hai anh em nhà Nolan cùng được xướng tên: Christopher chấp bút kịch bản từ ý tưởng truyện ngắn mà em trai Jonathan ấp ủ. Cấu trúc kể ngược của Memento chưa bao giờ là một mẹo trang trí, nó lột tả đúng bản chất bộ phim: bằng cách đảo dòng thời gian, Nolan đặt người xem vào đúng tình trạng mất trí nhớ ngắn hạn của nhân vật, khiến kịch bản và chủ đề nhập làm một.
Hơn hai mươi năm sau, kỹ năng ấy vẫn còn nguyên vẹn và đã thành thương hiệu của Christopher Nolan. Sự kiện trong The Odyssey được kể bằng những dòng thời gian đan xen mà mạch tự sự vẫn bện chặt vào nhau, đến mức giới phê bình khen Nolan tái tạo được lối “dệt truyện” tài tình của chính Homer. Ký ức lồng trong ký ức, chuyện kể lồng trong chuyện kể, chất Nolan của Memento vẫn nguyên vẹn.
Vậy nên vấn đề của The Odyssey không nằm ở cấu trúc. Và tôi cũng phải nói ngay đề phòng bạn hiểu nhầm: nó cũng không nằm ở chất lượng từng câu thoại.
Trong một tác phẩm được tung hô gần như tuyệt đối, lời thoại gần như là góc duy nhất khiến giới phê bình đồng loạt cau mày. Cây bút của The Film Experience cho rằng Nolan dựng được người khổng lồ cao 15 mét và những con thuyền gỗ vật lộn giữa biển động, nhưng khoảng lặng giữa các đại cảnh, nơi nhân vật ngồi xuống và nói chuyện với nhau, lại là thứ ông không giỏi. Jon Winkler của InBetweenDrafts nhận xét Nolan như chán chính lời thoại của mình, nên cứ liên tục đổi cú máy.
Tôi đã định đồng ý hoàn toàn. Rồi tôi ngồi ngẫm lại thoại trong phim.
Có một cảnh Eurylochus hỏi Odysseus rằng mỹ nhân ngư đã hát gì, và Odysseus trả lời một câu rất dài: đó là một áng văn hay, có nhịp điệu và giàu hình ảnh, thậm chí chứa đựng một “cú twist” ngay tại câu cuối. Những ví dụ khác có thể kể tới đoạn hội thoại giữa Telemachus và Odysseus về việc sẽ làm gì trong bữa tiệc cuối phim; câu trả lời của Odysseus khi được hỏi tại sao gã khổng lồ Cyclops không nói chuyện với mình; hay đoạn Agamemnon kể về những bất hạnh của mình khi về tới quê nhà. Chúng đều sẽ được xếp hạng vào những đoạn hội thoại hay nhất mà Nolan từng ký tên tác giả.
Mỗi lần nhân vật mô tả một trải nghiệm, Nolan và nhóm biên kịch viết rất tốt. Chúng đều là những đoạn dài, giàu hình ảnh, có sức nặng thật.
Nhưng mỗi lần nhân vật phát biểu một chân lý, cái “chất” ấy biến mất. “Sức mạnh của sự hy sinh nằm ở cái giá của người hy sinh”; “Tình yêu không phải một sự hy sinh”; “Thời đại đồ đồng của chúng ta đang sụp đổ”. Tất cả đều ngắn, đều gọn, đều có dáng dấp châm ngôn, nhưng rỗng tuếch. Câu về sự hy sinh chỉ nói lại đúng tiền đề của chính nó: hy sinh thì tốn kém. Đó là một hiện tượng trùng ngôn khoác lên mình tấm áo minh triết. Còn cái khái niệm “thời đồ đồng” kia thì do hậu bối đặt cho giai đoạn lịch sử, không ai đang sống trong nó lại gọi tên nó như vậy. Cụm từ “thời đồ đồng” được nhắc đến nhiều lần trong phim, liên tục kéo tôi về lại với thực tại phũ phàng của tiếng bỏng ngô rau ráu và tiếng thì thào của những người chưa hiểu tầm quan trọng của chi tiết này.
Nói cách khác: Nolan viết được một đoạn văn, nhưng lại không cho ra câu thoại đắt giá, và đây mới là chỗ tôi thấy hụt hẫng thật sự. Tôi vẫn thường vui sướng trích lại phim Nolan trong những buổi trà đá, trên bàn nhậu mỗi khi nói về chuyện phim ảnh, hay trong những cuộc đàm đạo với vợ: chúng ta đều tự huyễn để có được hạnh phúc; nếu bạn giỏi thứ gì, thì đừng làm nó miễn phí; quyền lực thực sự nằm trong bóng tối. Để ý mà xem: chúng đều ngắn, và đều dễ dàng mang đi được. Bài diễn văn về mỹ nhân ngư thì bất di bất dịch, vì nó chỉ hay khi nằm ở trong phim.
Đi xem The Odyssey tới hai lần, tôi không cầm được câu thoại nào về. Thứ đọng lại trong tôi là hình và tiếng, chứ chẳng có lấy một con chữ.
Với một bộ phim khác, tôi đã cho qua. Nhưng đây là Odyssey.
Thiên sử thi này sống sót gần ba nghìn năm trước khi có ai chép nó xuống, và nó sống sót được chính nhờ những cụm từ ngắn mang đi được. Người hát rong dựa vào những cụm ấy để nhớ mạch chuyện, người nghe dựa vào chúng để kể lại cho người khác. Cả tòa lâu đài đứng vững được là nhờ những viên gạch đủ nhỏ để một người bình thường bỏ vào túi mang về. Thế mà Nolan làm một bộ phim dài gần 3 tiếng về tác phẩm trứ danh, và không đúc ra nổi một viên gạch nào tầm cỡ.
04
Về chuyện tiếng Anh hiện đại
Riêng lựa chọn ngôn ngữ hiện đại, tôi cho là vừa ưu vừa nhược.
Ưu điểm thì quá rõ. Nolan đã kể lại một câu chuyện trứ danh bằng thứ tiếng dễ hiểu sẽ mở rộng sức lan tỏa, và sâu xa hơn, nó có lý do chính đáng: Odyssey vốn là chuyện truyền miệng, được hát lên trước đám đông chứ không phải đọc trong thư phòng. Dụng ý ấy lộ ra rõ nhất ở việc Nolan giao vai người hát rong cho rapper Travis Scott, một phép so sánh tinh tế rằng rapper hiện đại mang trong mình khả năng kể chuyện của những thi sĩ thuở xưa. Chính Nolan cũng nói thẳng, trong một cuộc phỏng vấn với Los Angeles Times, rằng ông muốn thứ ngôn ngữ mang ý nghĩa cảm xúc chứ không phải ý nghĩa trí tuệ: “Có lẽ tôi đang ngây thơ, và có thể tôi sẽ lãnh đủ vì chuyện này, nhưng tôi muốn một lối kể mộc mạc. Với tôi thì đó là chuyện chẳng phải nghĩ”. Matt Zoller Seitz của RogerEbert.com bênh vực lựa chọn ấy bằng một câu gọn ghẽ: chê thoại mộc mạc thì cũng chẳng khác gì chê các diễn viên không nói tiếng Hy Lạp.
Tôi hiểu ý họ, và tôi không phản đối. Tôi không chê sự giản dị, điều tôi tiếc là giản dị mà không cô đọng lại được thành thứ gì “vừa miếng” để mang theo mình. Một câu có thể vừa dễ hiểu, vừa có nhịp, vừa đọng lại sau khi người xem rời rạp; Wilson làm được điều đó trong một câu bảy chữ.
Nolan đã đạt được đúng mục đích ông đặt ra: một thiên sử thi mà bất kỳ ai bước vào rạp cũng theo dõi được mà không cần đọc trước nguyên tác. Phải khẳng định đó là một thành tựu hiếm có và đáng tôn vinh. Nhưng tôi vẫn mong một thiên sử thi được kể bằng thứ ngôn ngữ có sức ngân và giàu màu sắc, và ở điểm ấy, The Odyssey không thoả mãn tôi.
Robert Eggers dựng The Northman từ thần thoại Bắc Âu, cũng là chuyện truyền khẩu, cũng được ngâm nga bên bếp lửa trước khi có ai chép nó xuống, những điểm này khiến nó có cùng một gốc gác với sử thi của Homer. Thế mà thoại trong phim ấy có nhịp, giàu hình ảnh, nói bằng tiếng Anh “lơ lớ” mà vẫn hiểu được. Eggers đã thỏa mãn cả hai thái cực, là dễ hiểu và vẫn sặc sỡ, bằng đúng thứ chất liệu Nolan đang cầm trong tay.
Vẫn còn một ví dụ kinh điển mang tên Gladiator. Ridley Scott để các nhân vật La Mã nói tiếng Anh hiện đại với giọng đời thường, và không một câu nào khó hiểu. Hơn hai thập kỷ sau, người ta vẫn nhại lại “Are you not entertained? - Các người không thấy giải trí à?” mỗi khi muốn châm chọc một đám đông đang điên cuồng hò hét. Giản dị và nhạt nhòa như dầu với nước, không thể hòa tan khi chưa có một “thủ pháp” phù hợp. Giữa hai đầu thái cực vẫn còn rất nhiều đất trống, và Nolan đã không xây nhà trên thửa đất nào cả.

05
Penelope nhận ra chồng
bằng tiếng dây cung
Thứ đọng lại rõ nhất trong tôi là tiếng dây cung ngân lên trong sảnh đường. Tôi nghĩ mãi về chi tiết ấy, bởi nó không hề nhỏ.
Trong nguyên tác, Penelope nhận ra chồng bằng một cái bẫy ngôn ngữ: nàng sai người dời chiếc giường cưới ra khỏi phòng, chiếc giường mà chính Odysseus đã đẽo từ một gốc ô-liu còn cắm rễ dưới nền nhà, nên không ai trên đời dời nó đi đâu được. Odysseus nổi giận, kể vanh vách từng bước mình đã dựng nó. Và chỉ khi ấy, người vợ mới ôm lấy chồng. Màn đoàn tụ lớn nhất của thiên sử thi được gỡ ra bằng một câu nói mà không ai khác nói được.
Nolan đã không đưa chi tiết này vào phim. Trong The Odyssey, Penelope nhận ra chồng bằng tiếng dây cung.
Tôi không nói đó là lựa chọn dở, khi nó hay và nó rất Nolan. Nhưng hãy để ý điều vừa xảy ra: ở đúng khoảnh khắc Homer giao việc cho lời thoại, Nolan giao việc cho thiết kế âm thanh. Không phải ông viết hỏng một câu thoại hay; ông quyết định rằng câu thoại ấy không cần tồn tại. Và khi một bộ phim liên tục chọn cách đó, thì đến lúc đèn bật sáng, thứ khán giả mang về nhà đúng là hình và tiếng, không có chữ nào.

06
Giao chiến trong không gian hẹp:
bài toán đã có lời giải
từ hai thập kỷ trước
Trong một căn phòng chật hay một hành lang hẹp, thứ tạo ra sức nặng thường không phải từ những cú cắt máy dồn dập. Năm 2003, Oldboy của Park Chan-wook để lại một minh chứng kinh điển: cảnh hành lang dài 3 phút, quay trong một cú máy liền không cắt, lia ngang như một màn game hành động. Riêng cảnh đó ngốn 3 ngày và 17 lần quay, với Choi Min-sik tự đóng phần lớn các pha hành động sau nhiều tuần tập luyện. Park chọn đúng thứ ngược lại với xu hướng đương thời, khi bỏ đi những cú cắt nhanh và hiệu ứng rung máy. Kết quả là khán giả cảm được sự kiệt sức của nhân vật, cảm được sự bí bức của hành lang chật chội: máy quay không cho một ai kịp nghỉ, kể cả người ngồi dưới hàng ghế.
Cả một tác phẩm bị chê tơi tả như Batman v Superman năm 2016 cũng được nhớ và nhắc tới nhiều nhờ phân cảnh Batman giải cứu mẹ của Superman ở nhà kho, với phần dàn dựng bám sát storyboard gần như từng khung và chủ yếu ứng dụng kỹ xảo thực tế. Chính giới cascadeur khen cảnh đó ở khía cạnh kể chuyện, khi mỗi cú đánh hé lộ một điều về nhân vật. Đây là phân đoạn hay nhất của một bộ phim dở, qua đó trở thành bằng chứng cho thấy chất lượng dàn dựng hành động là một kỹ năng đứng độc lập với chất lượng chung của phim.
Quay về với The Odyssey. Với cá nhân tôi, cao trào tàn sát bọn cầu hôn là chỗ phim hụt hơi, và điểm đau dễ thấy nhất trong phân cảnh này là độ sáng của nó. Trong điện ảnh, bóng tối thường được dùng để giấu kỹ xảo. Nhưng trong phim Nolan, cụ thể là trong The Odyssey, bóng tối lại được dùng để che khuyết điểm của ông: phân cảnh hành động.
Đây lẽ ra phải là nơi choreography được phô ra rõ nhất: cao trào của cả thiên sử thi, khoảnh khắc Odysseus vừa đòi lại thứ đã mất, đồng thời chứng minh mình vẫn là người lính từng chinh phạt thành Troy. Thế nhưng không có pha hành động nào đáng nhớ, không có nhịp hành động nào cho thấy kỹ năng của một cựu quân nhân dày dạn kinh nghiệm. Khả năng đạo diễn một pha hành động của Nolan đã, đang và vẫn chưa gãi được chỗ ngứa của khán giả đam mê cận chiến. Dù dụng ý nghệ thuật của Nolan là gì, hay sự thiếu sáng là đặc tính của định dạng phim Nolan đã chọn, thì sự thật vẫn vậy: trong bóng tối, mọi đường gươm đều chìm.
Nói cho công bằng, Nolan là một người kể chuyện xuất sắc, và câu chuyện được kể một cách cuốn hút trong gần 3 tiếng đã chứng minh điều đó. Nhưng kể chuyện và dựng một trận đánh là hai nghề khác nhau. Nolan có thể bện thời gian lại thành dây thừng, nhưng dường như không có trong đầu cái phản xạ thô ráp của một gã biết giải quyết câu chuyện bằng nắm đấm, là thứ phản xạ mà người dựng cảnh hành động buộc phải có. Thành thật mà nói, tôi rất mong Nolan tìm được một người đứng cạnh mình để lo phần đánh đấm.
07
Đại cảnh lớn là chưa đủ
Nói xong cái vi mô, giờ tới cái vĩ mô.
Ở phân đoạn cổng thành Troy bật mở. Tôi ngồi đó, không biết ai đang đánh ai. Trong cái tối, sáng nhập nhằng của một tòa thành thất thủ về đêm, ta chỉ thấy sự hỗn loạn: quân ngoài thành từ đâu tràn vào, quân trong thành chống cự ra sao, lộ trình cưỡng đoạt Troy bằng vũ lực diễn ra như thế nào - không một câu hỏi nào trong số đó được trả lời. Tất cả những gì tôi nhớ là hình ảnh ấn tượng của một bộ giáp màu đen, lấp ló trong màn đêm và lập lòa dưới ánh lửa. Tôi thừa nhận đây có thể là dụng ý của Nolan, cố tình tạo ra khung cảnh hỗn loạn của một cuộc phục kích, nhưng dụng ý và hiệu quả là hai chuyện khác nhau.
Một đại cảnh chiến trận chỉ thành kiệt tác khi nó mô tả vị trí địa lý rõ ràng và một sức nặng đạo đức, chứ không đo bằng số lượng quân lính có thể nhét vừa một khung hình.
Trận Helm’s Deep trong The Two Towers năm 2002 tiêu tốn 4 tháng quay, với 3 trong số đó diễn ra hoàn toàn về đêm, với xưởng WETA dựng phần lớn tường thành và đạo cụ bằng vật liệu thật. Điểm đáng khen nhất là nó dựng được một tấm bản đồ trong đầu người xem: họ luôn biết đâu là tường ngoài, đâu là tường trong, điểm yếu chí mạng của thành nằm tại đâu, và “quân ta” đã phải đi đâu, làm gì để cố thủ. Trận đánh có cấu trúc gãy gọn như một vở kịch ba hồi.
Saving Private Ryan năm 1998 cho một minh chứng khác, và là minh chứng đắt hơn cho trường hợp của Nolan. Để phục vụ hơn 20 phút mở màn cho bộ phim, với đại cảnh tại bãi biển Omaha đẫm máu, Steven Spielberg và nhà quay phim Janusz Kamiński đã nghiên cứu những thước phim thời sự do phóng viên chiến trường ghi lại, dùng máy cầm tay và khử màu ở khâu hậu kỳ để tạo cảm giác tư liệu, để rồi phim thắng năm giải Oscar, trong đó có Quay phim xuất sắc cho Kamiński và Đạo diễn cho Spielberg. Nghịch lý đáng nói nằm ở chỗ đây là một cảnh cố tình hỗn loạn và rung lắc, nhưng là hỗn loạn có chủ đích và rành mạch về yếu tố địa lý: người xem luôn biết bờ biển nằm phía nào, ụ súng nằm ở đâu, khoảng cách còn lại là bao xa.
Kiến tạo sự hỗn loạn có chủ đích là một nghệ thuật, và không phải ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ.

08
Chỗ The Odyssey thật sự thắng,
và một dấu hỏi lớn
Vẫn phải dành cho Nolan những lời tâng bốc có cánh về những gì ông đạt được. Đây là bộ phim đầu tiên trong lịch sử được quay toàn bộ bằng IMAX 70mm, một cột mốc kỹ thuật có thật chứ không phải chiêu quảng bá. Giới phê bình gần như đồng thuận khen phần hình ảnh, khen bản nhạc của Ludwig Göransson, khen Matt Damon, và nhiều người gọi đây là bộ phim nhân văn và tiết chế vào hàng nhất trong sự nghiệp của Nolan, truyền tải một thông điệp phản chiến rõ ràng.
Có điều, quay bằng định dạng nào là một thành tựu sản xuất, còn ngôn ngữ hình ảnh lại là một thành tựu nghệ thuật, và hai thứ đó không nghiễm nhiên đi cùng nhau. Thứ đọng lại trong trí nhớ người xem sau nhiều năm hiếm khi là thông số kỹ thuật, thường là một hình ảnh cụ thể và cảm giác nó để lại. Cụm từ “quay toàn bộ bằng IMAX 70mm” là một mệnh đề tiếp thị tiệm cận hoàn hảo: ngắn gọn, ấn tượng, dễ giật tít, đủ sức đẩy doanh thu lên con số kỷ lục, và đúng là nó đã làm được. Trong khi đó, “kịch bản chặt tay” hay “dàn dựng hành động rành mạch” thì chẳng có kỷ lục nào để lên tiêu đề.
Việt Nam là nơi phơi bày rõ nhất khoảng cách ấy, bởi không rạp nào trong nước chiếu được IMAX với đầy đủ độ phân giải của định dạng gốc. Khán giả Việt đang trả tiền cho một lời hứa về định dạng, chứ không mua được những gì đang được quảng cáo. Đây có lẽ là bằng chứng gọn gàng nhất cho toàn bộ luận điểm: danh tiếng đã đi trước, và đi xa hơn, chính bản thân bộ phim.
09
Vậy đâu mới là đỉnh cao điện ảnh của Nolan?
Câu trả lời có lẽ không nằm ở một bộ phim, mà ở việc ta chọn tiêu chí nào. Lấy kịch bản làm thước đo thì đó là Memento. Lấy nhân vật và sức nặng chủ đề thì có The Dark Knight. Lấy sự công nhận của cả ngành thì có Oppenheimer với chiến thắng lớn tại Oscar 2024. The Odyssey hiện dẫn đầu ở đúng một hạng mục, ấy là quy mô, và quy mô lại là thứ dễ đo nhất, dễ bán nhất, mà cũng dễ quên nhất.
Thử hỏi, 15 năm nữa, khi không còn cột mốc IMAX 70mm để làm điểm nhấn, người ta sẽ trích lại câu thoại nào trong The Odyssey, hay chọn The Odyssey để xem lại trong bộ sưu tập phim điện ảnh cộp mác Nolan?
Hãy trở lại với hàng người xếp trước rạp chờ đến giờ chiếu phim. Không có lý do gì để hạ thấp họ, bởi sự phấn khích đó là điều đáng mừng, và việc một phim gán nhãn R dài gần ba tiếng, chuyển thể từ sử thi Hy Lạp, kéo được cả một thế hệ ra rạp là tin vui thật sự cho điện ảnh. Chỉ cần phân biệt cho rạch ròi một điều: họ đang chứng kiến một sự kiện văn hoá, và một sự kiện thì chưa chắc đã là một kiệt tác điện ảnh. Nhầm lẫn hai thứ ấy với nhau, lâu dần, sẽ khiến chúng ta đòi hỏi ít đi ở chính những người mình ngưỡng mộ nhất.
The Odyssey · 2026
Odysseus mất hai mươi năm để về được đến nhà. Nolan chỉ mất một cuối tuần để chinh phục cả thế giới.
Và có lẽ đó mới là vấn đề: một chuyến đi quá thuận buồm xuôi gió thì thường chẳng để lại vết sẹo nào.
Phê bình
THE ODYSSEY · Phê bình